CÁC TRẬN LŨ LỤT, NGẬP ÚNG ĐIỂN HÌNH Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
Căn cứ vào những nguyên nhân chính gây ngập lũ, lụt điển hình ở Bắc Bộ trong nhiều thập kỷ qua, có thể khái quát một số dạng ngập lụt sau: Ngập úng lụt do mưa lớn nội đồng; Ngập lụt, úng do mưa lớn trong đồng kết hợp với lũ lớn ngoài sông hoặc do tràn vỡ đê bối, đê địa phương; Ngập lụt do lũ lớn trên sông gây tràn, vỡ đê bối, đê địa phương, kết hợp với mưa lớn trong đồng và nước dâng do bão; Ngập lụt do vỡ đê.

Nhìn chung, căn cứ vào những nguyên nhân chính gây ngập lũ, lụt điển hình ở Bắc Bộ trong nhiều thập kỷ qua, có thể khái quát một số dạng ngập lụt sau: 

· Ngập úng lụt do mưa lớn nội đồng 

· Ngập lụt, úng do mưa lớn trong đồng kết hợp với lũ lớn ngoài sông hoặc do tràn vỡ đê bối, đê địa phương. 

· Ngập lụt do lũ lớn trên sông gây tràn, vỡ đê bối, đê địa phương, kết hợp với mưa lớn trong đồng và nước dâng do bão. 

· Ngập lụt do vỡ đê. 

I. Ngập úng lụt do mưa lớn nội đồng 

Ngập úng lụt xảy ra do mưa vượt chỉ tiêu thiết kế của kênh mương, cống, trạm bơm,... dẫn đến úng, lụt cục bộ hoặc trên diện rộng. Mức độ ngập úng lụt tùy thuộc vào lượng mưa, khả năng tiêu thoát nước (công suất trạm bơm tiêu và hệ thống kênh tiêu). Dưới đây khái quát một số trận ngập úng lụt điển hình ở đồng bằng Bắc Bộ. 

1. Trận úng lụt rất lớn cuối tháng V/1994 

Do hoạt động của rãnh thấp phát triển từ mặt đất đến tầng 500mb với gió đông nam hội tụ mạnh ở các tầng nên từ 19 đến 20/V/1994 có mưa 20¸100mm ở vùng núi phía bắc, mưa từ 50¸100mm ở đồng bằng Bắc Bộ, mưa lớn tập trung ở nam Hà Nội và Hà Tây (Hà Nội mưa trên 180mm, Hà Đông 199mm, Thanh Oai 178mm, Chợ Cháy 161mm, Thường Tín 187mm, Phú Xuyên 225mm, Hoài Đức 173mm và Nam Định trên 260mm. Đây là đợt mưa hiếm thấy trong tháng V từ 1979 đến 1994. Mưa gây lũ tiểu mãn trong hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Mực nước tại Hà Nội lên đến 6,05m với biên độ lũ 1,73m. Mực nước Phả Lại từ lên đến 2,13m (1h/25), biên độ lũ lên là 1,13m. Lũ tiểu mãn cuốn trôi nhiều hoa màu ven hai bãi sông Hồng và Thái Bình. Mưa lớn gây ngập úng lụt nghiêm trọng ở nội thành Hà Nội, Nam Định và ngập hoa màu của các huyện Thanh Trì, Từ Liêm (Hà Nội), các huyện Thường Tín, Phú Xuyên, Hoài Đức, Chương Mỹ,... (Hà Tây) và một số huyện của tỉnh Hà Nam, Nam Định,... úng lụt gây thiệt hại nhiều tài sản của nhân dân các tỉnh trên. 

2. Trận ngập úng lụt cuối tháng VIII/1994 

Do tác động trực tiếp của bão số 6 (HARRY 9418) đổ bộ vào Quảng Ninh, Hải Phòng đêm 28/III, sau đó tiếp tục đi theo hướng tây và suy yếu dần, từ ngày 28-31/VIII ở Bắc Bộ và khu 4 cũ có mưa ở nhiều nơi, khu vực Quảng Ninh và đồng bằng trung du Bắc bộ có mưa to, rất to, từ 100¸300mm, nhiều nơi mưa trên 300mm như Phủ Liễn 385 mm, Nam Định 385mm, Thái Nguyên 331mm, Nho Quan 330mm, Hải Dương 323mm, Hà Nội 320mm. Mưa lớn tập trung vào ngày 29 và 30/VIII. 

Một trận lũ nhỏ đã xảy ra trên sông Hồng, Thái Bình và lũ lớn trên các sông khác. Mực nước sông Hồng tại Hà Nội lên đến 9,11m (13h/1/IX), tại Hưng Yên, lên đến 5,65m (1h/1/IX) cao hơn BĐI; tại Phả Lại lên đến 4,73m (19h/31), cao hơn BĐII. Do lũ sông Bùi, sông Tích, mực nước tại Ba Thá trên sông Đáy lên đến 6,00m (13h/I/IX), tại Phủ Lý lên đến 4,41m (19h/I/IX) vượt báo động III 0,31m và cao hơn mức nước 1971 - năm có phân lũ qua đập Đáy, là 39cm. Mực nước Hưng Thi trên sông Hoàng Long lên đến 13,46m (13h/30), tại Bến Đế lên đến 4,09m (19h/31), vượt báo động III là 9cm. Trong khi đó, thuỷ triều vịnh Bắc bộ đang ở giai đoạn triều cường. 

Do mưa lớn, cường độ lớn trong đồng với lũ trên hệ thống sông Hồng, Thái Bình, Đáy (sông Bùi, sông Tích, sông Nhuệ, sông Hoàng Long có lũ lớn) lại gặp triều cường nên đã gây úng lụt nghiêm trọng ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Hải Dương, Hưng Yên,... Nội thành Hà Nội nhiều nơi ngập sâu 0,5m-1,0m, thậm chí trên 1,0m trong nhiều ngày, hơn cả trận úng lụt XI/1984. Ngập úng lụt làm các đường liên xã, liên huyện, liên tỉnh bị hư hại nặng, nhiều đoạn đường quốc lộ số I cũng bị hư hại. Nhiều kênh mương, đê, kè, cống và các hồ chứa nhỏ, mương phai cũng bị hư hỏng nặng. Thiệt hại do đợt mưa úng lụt này ở đồng bằng Bắc bộ lên tới hàng trăm tỉ đồng. 

3. Trận úng lụt lịch sử tháng XI/1984 ở Bắc Bộ 

Tác động tổ hợp của xoáy thuận (tàn dư bão số 9 đổ bộ vào Quy Nhơn tối 7/IX) ở tầng cao có tâm nằm trên vùng đông bắc Thái Lan, hội tụ gió đông nam dày và mạnh với gió tây nam ở vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ; hoạt động của rãnh gió tây gây nên dòng xiết mạnh mẽ ở trước rãnh, tạo điều kiện thuận lợi cho dòng thăng phát triển ở khu vực Bắc Bộ; tầng cao trên 10km là một áp cao đã gây đợt mưa rất to kèm theo dông, tố khác thường kéo dài, ở Trung Bộ và Bắc Bộ, trong đó mưa tập trung vào ngày 9, 10/XI. Mưa rất to ở Thanh Hoá, Hà-Nam-Ninh, Hải-Hưng, Hà-Sơn-Bình, Hà Nội, Hà-Bắc, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, đạt 100¸700 mm. Mưa 300¸700mm ở Hoà Bình, Hà Tây, Hà Nội và vài nơi ở Thanh Hoá, Hải Dương, Hưng Yên. Tại Kim Bôi mưa 701,9mm, Lạc Sơn 690,0mm, Vân Đình 512mm, Thường Tín 571,0mm, Phú Xuyên 479,0mm, Láng 561,0mm, Đông Anh 526,0mm,... Lượng mưa ngày 10/XI tại Kim Bôi 536,9mm, Vân Đình 413,0 mm, Láng (Hà Nội) 395,0mm,... Đây là đợt mưa đặc biệt lớn trong tháng XI và chưa từng thấy cùng kỳ trên 100 năm qua ở đồng bằng Bắc Bộ (từ 1886 đến 1998). 

Mưa lớn gây một đợt lũ nhỏ trên hệ thống sông Hồng, Thái Bình, lũ vừa hoặc lớn (sông Hoàng Long) trên hệ thống sông Đáy. Ngập úng lụt chủ yếu do mưa úng nước trong đồng. Tại Hà Nội, các quận ở phía tây và nam thành phố, ngập sâu từ 0,5 đến trên 1m nước. Diện tích ngập úng lụt gây mất trắng hoa màu ở Hà Nội, Hà-Sơn-Bình, Hà-Nam-Ninh và Hải-Hưng khoảng 7,8 vạn ha. Ngoài thiệt hại do ngập úng lụt, ở một số tỉnh như Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Hòa Bình, Hà-Nam-Ninh,... còn xảy ra hiện tượng giông, tố, vòi rồng hoặc lốc trong ngày 10, làm đổ nhà cửa, cây cối, gây thiệt hại lớn về tài sản và tính mạng của nhân dân đồng bằng Bắc Bộ. 

4. Trận ngập lũ lụt đầu tháng X/1978 ở phía bắc đồng bằng Bắc Bộ 

Do ảnh hưởng trực tiếp của bão số 10 (Lola) đổ bộ vào Tiên Yên, Quảng Ninh rạng sáng 3/X, sau đầy dần lên thành vùng áp thấp và tiếp tục di chuyển theo hướng tây qua các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ,... đã mưa từ 100¸200mm ở hầu hết vùng núi, trung du, phía bắc đồng bằng Bắc Bộ. Tâm mưa lớn từ 200¸500mm thuộc lưu vực sông Công và sông Phó Đáy. Riêng ngày 4/X, mưa tại Ký Phú 496mm, Đại Từ 439mm, Phổ Yên 249mm, Quảng Cư 352mm, Phúc Yên 262mm,... Tổng lượng mưa cả đợt từ ngày 2¸5/X, bình quân trên lưu vực sông Công là 480mm, sông Phó Đáy 300mm. 

Đã xuất hiện trận lũ lịch sử trong tháng X trên các sông con ở phía bắc đồng bằng Bắc Bộ: Trên sông Công, lũ lịch sử, lũ quét ở Đại Từ, lũ làm đổi dòng các suối; đập tràn hồ Núi Cốc cũng bị sạt lở và vỡ, gây thiệt hại rất lớn về người và của ở huyện Đại Từ. Nhiều nhà cửa, cầu cống và hoa màu ở vùng Đại Từ bị quét sạch, diện tích lúa bị ngập trôi là 318ha. Trên sông Phó Đáy, xuất hiện lũ lịch sử. Đỉnh lũ tại Quảng Cư đến 31,61m (5h/4/X), cao hơn đỉnh lũ 1971 là 0,35m. Do lũ lớn, kéo dài gây ngập lụt nghiêm trọng ở hai ven bờ sông và ngập úng vùng hạ lưu sông Phó Đáy thuộc huyện Tam Đảo, Mê Linh, Vĩnh Lạc. Diện tích lúa bị ngập lụt là 60.000 ha, trong đó 3.000ha bị mất trắng. 

II. Ngập lụt, úng do mưa lớn trong đồng kết hợp với lũ lớn ngoài sông 

1. Trận ngập lũ, úng tháng VIII/1969
 

Do tác động tổ hợp liên tiếp và đan xen các hình thái thời tiết như dải hội tụ nhiệt đới, không khí lạnh nén rãnh thấp nóng phía tây hoặc rìa lưỡi cao Thái Bình Dương phát triển mạnh sang phía tây, từ ngày 6¸17/VIII, mưa lớn từ 400¸500 mm ở thượng nguồn sông Đà, Thao, Lô, mưa giảm dần ở vùng trung du đồng bằng Bắc Bộ, từ 400¸200mm; tại Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, mưa 100mm hoặc dưới 100mm. Tổng lượng mưa cả đợt từ ngày 6¸17/VIII, bình quân trên lưu vực sông Hồng 318mm, Thái Bình 237mm, vùng đồng bằng Bắc bộ khoảng 150mm. 

Trên sông Hồng - Thái Bình xảy ra lũ rất lớn, trên mức BĐIII. Mực nước đỉnh lũ tại Hà Nội là 13,22m (13h/18) vượt BĐIII 1,72m, thời gian duy trì trên BĐIII tới 10 ngày. Đỉnh lũ tại Phả Lại là 6,48m (5h/20), vượt BĐIII 0,98m, thời gian duy trì mức lũ trên BĐIII là 11 ngày. Lũ hệ thống sông Đáy chỉ lên trên mức BĐI. Thời gian lũ cao trên mức BĐIII ở hạ lưu sông Hồng - Thái Bình là trùng với thời kỳ triều kém và không có bão. 

Tình hình vỡ đê bối, phân lũ sông Đáy và diện ngập lụt. Khi mực nước Hà Nội lên 13.1m, đã mở cống Vân Cốc phân lũ vào sông Đáy, lưu lượng ban đầu là 600m3/s, lưu lượng phân lũ lớn nhất đạt 1700m3/s. Ngừng phân lũ vào 16h40’ ngày 21.VIII. Lũ lớn đã làm tràn vỡ hầu hết các đê bối hạ lưu sông Thao, Hồng và Thái Bình. Lúc 13h ngày 14, vỡ đê bối Cự Khối, Tầm Xá phía đê tả, dưới Hà Nội; lúc 1h ngày 16, vỡ đê bối Thanh Trì; lúc 2h ngày 18, vỡ đê bối Văn Giang, Hưng Yên; lúc 17h ngày 17, vỡ đê Châu Cầu gần cửa ra sông Đuống. Vỡ đê bối kết hợp với mưa lớn nội đồng làm tổng diện tích ngập lũ và úng ở đồng bằng Bắc Bộ lên đến 95.782ha, trong đó Hà Nội 12.170ha, Hà Tây và Hòa Bình 19.912ha, Hải Dương và Hưng Yên 32.260ha và Hà-Nam-Ninh 31.440ha. 

2. Trận úng lụt cuối tháng IX/1978 

Bắc Bộ chịu tác động của không khí lạnh nén vùng thấp (tàn dư bão số 8 đổ bộ vào Thừa Thiên-Huế sáng ngày 20/IX sau sang Lào, Thái Lan) hình thành một vùng hội tụ gió ở bắc khu 4 cũ và nam đồng bằng Bắc Bộ, gây mưa lớn trong 2 ngày 21,22/IX. Lượng mưa 100¸200mm bao trùm hầu hết các tỉnh đồng bằng trung du Bắc Bộ và khu 4 cũ, mưa lớn 300¸400 ở các tỉnh Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình và một phần tỉnh Nam Định, Hà Nội, Hưng Yên và Hoà Bình. Lượng mưa bình quân trên lưu vực sông Hoàng Long là 486 mm; tại Bến Đế mưa 718mm, Chi Nê 581mm, An Bình 550mm, Hưng Thi 475mm. Trên hệ thống sông Nhuệ, Đáy mưa 400¸500mm. 

Lũ sông Hồng, Thái Bình nhỏ; mực nước đỉnh lũ tại Hà Nội và Phả Lại chỉ trên dưới BĐI. Lũ sông Hoàng Long rất lớn, đỉnh lũ sông Đáy đoạn Phủ Lý-Ninh Bình đều trên BĐIII, tại Phủ Lý là 4,44m (1h/24), cao hơn đỉnh lũ năm 1971 khi có phân lũ sông Đáy, tại Bến Đế là 5,42m (16h/22) cao hơn BĐIII 1,42m và duy trì trên BĐIII trong 5 ngày. 

Lũ đặc biệt lớn trên sông Hoàng Long, lũ sông Nhuệ, Đáy, Châu Giang dâng cao đột ngột, kéo dài 4¸5 ngày và trùng với thời kỳ triều cường kết hợp với mưa lớn trong đồng nên gây tràn vỡ nhiều đoạn đê hạ lưu sông Hoàng Long và uy hiếp đê sông Đáy, Nhuệ. Đê hữu sông Hoàng Long bị tràn vỡ 5 đoạn: ở làng Sui, làng Môi, Đồi 94, Đập Lạc Khoái, Văn Trình với tổng chiều dài 565m, sâu từ 1,3-1,8m. Đê tả Hoàng Long bị vỡ đoạn Đầm Cút, dài 240m, sâu1,2m. Lụt, úng gây thiệt hại nghiêm trọng Hà Tây, Hà Nội, Nam Định và đặc biệt là Ninh Bình và Hà Nam: 21 xã bị ngập; 3 người chết, 50.000 người phải sơ tán khỏi vùng ngập sâu; ngập và hư hại 13.000 ngôi nhà,.... Tổng diện tích ngập lụt úng là 96.000ha, trong đó lúa bị mất trắng là 48.000ha 

3. Trận lũ, úng lụt lớn tháng VII/1986 

Từ 13 đến 28/VII, tác động tổ hợp của bão, KKL, dải HTNĐ, xoáy thấp và cao áp Thái Bình dương lấn sâu vào lục địa đã gây mưa kéo dài, nhiều đợt liên tiếp. Mưa lớn tập trung vào ngày 20-23/VII, tâm mưa lớn 300¸400mm ở trung, hạ lưu sông Lô, Thương và Lục Nam; các nơi khác ở miền núi và trung du Bắc Bộ, mưa 100¸300mm; tây nam đồng bằng như Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, chỉ mưa 25¸100 mm. 

Lũ đặc biệt lớn đã xảy ra trên sông Cầu, Thương và Thái Bình; lũ lịch sử trên sông Lục Nam; lũ lớn trên sông Hồng; lũ nhỏ trên sông Bùi, Tích, Hoàng Long, Đáy. Mực nước đỉnh lũ năm 1986 tại Đáp Cầu là 7,97m (8h/27), đứng thứ ba trong chuỗi quan trắc (sau đỉnh lũ 1971,1980), vượt BĐIII là 1,49m và duy trì trên báo động III trong 15 ngày; tại Phủ Lạng Thương là 7,81m (13h/24) cao hơn đỉnh lũ 1971 là 2cm, vượt BĐIII 2,01m và duy trì trong 16 ngày; tại Lục Nam là 8,29m (24h/23), đạt mức lũ lịch sử, vượt BĐIII 2,49m và duy trì trong 15 ngày; tại Phả Lại là 6,95m (8h/27), vượt BĐIII 1,45m và kéo dài 14 ngày trên BĐIII. Trên sông Hồng, tại Hà Nội, đỉnh lũ là 12,35m (7h/29), vượt BĐIII là 0.85m, duy trì trên BĐIII trong 8 ngày. Lũ lớn trên sông trùng với thời kỳ triều kém và không có hiện tượng nước dâng. 

Lũ đặc biệt lớn đã gây sạt lở, tràn, vỡ nhiều đê bối, đê địa phương thuộc các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên,... Mưa, lũ gây thiệt hại nhiều cho các tỉnh miền núi và trung du như: Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lai Châu, Quảng Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình, Hà Tây. Hàng chục ngàn hecta lúa và hoa màu bị ngập và mất trắng. Nhiều đoạn đường quốc lộ bị ngập, sạt lở và trôi đá. Nhiều hồ chứa, đập đất địa phương bị tràn, vỡ do lũ cao. Lũ lụt làm chết 121 người; sập, trôi 491 nhà; ngập 12.571 nhà 

III. Lũ lớn trên sông gây tràn, vỡ đê bối, đê địa phương, kết hợp với mưa lớn trong đồng và nước dâng do bão 

1. Trận lũ, úng lụt tháng VIII.1968
 

Bắc Bộ chịu ảnh hưởng liên tiếp của 2 cơn bão, số 3 đổ bộ vào Quảng Ninh hồi 22h ngày 7/VIII và số 4 vào Văn Lý, Nam Định ngày 14/VIII, cũng như của dải HTNĐ và KKL tăng cường vào ngày 11 và 15/VIII, gây mưa lớn từ 7-15/VIII. Mưa bình quân lưu vực sông Hồng là 278mm. Mưa 300¸400mm bao trùm lưu vực sông Thao, tả ngạn sông Đà và hạ lưu sông Lô. Tâm mưa 400¸600mm ở trung du sông Thao và hạ lưu sông Đà. Mưa tại Sa Pa là 533mm, Yên Bái 544mm, Nghĩa Lộ 437mm. Trên lưu vực sông Thái Bình, mưa bình quân lưu vực là 354mm; ở đồng bằng Bắc Bộ, mưa trung bình khoảng 300mm. 

Lũ đặc biệt lớn, kéo dài nhiều ngày trên BĐ 3 xảy ra ở sông Hồng và Thái Bình. Đỉnh lũ tại Hà Nội là 12,23m (4h/16), vượt BĐ 3 là 0.73m, duy trì trên BĐ 3 trong 4 ngày; tại Phả Lại là 6,49m (17h/15), vượt BĐ 3 là 0.99m, duy trì trên BĐ 3 trong 8 ngày. Trên hệ thống sông Đáy, xảy ra lũ vừa và lớn với đỉnh lũ từ BĐ 2-3 (tại Bến Đế, đỉnh lũ là 4,49m (7h/15), vượt BĐ 3 là 0,49m). Bão số 4 đổ bộ vào Văn Lý, Nam Định ngày 14/VIII gây nước dâng cao thêm trên 1,0m ở các cửa sông thuộc Bắc Bộ: tại cửa Ba Lạt, cao thêm khoảng 1,2m; cửa sông Thái Bình, tại Đông Xuyên, cao thêm khoảng 1,5m. Nước dâng truyền sâu vào trong sông, cản trở sự tiêu thoát lũ ở đồng bằng Bắc Bộ ra biển. 

Mưa, lũ đặc biệt lớn kết hợp với nước biển dâng do gió bão và mưa lớn nội đồng đã uy hiếp nghiêm trọng hệ thống đê sông ở đồng bằng và đê biển: đê bối hữu ngạn sông Thao bị vỡ nhiều đoạn, nặng nhất là đoạn Vực Trường phía trên Phú Thọ 1km và tràn, vỡ nhiều chỗ vùng Tam Nông, Thanh Thuỷ dưới Phú Thọ; ngày 14, tràn, vỡ đê tả ngạn sông Hồng thuộc huyện Yên Lãng, Yên Lạc, Vĩnh Tường; 1h ngày 16, vỡ đê bối Khuyến Lương, Thanh Trì, Hà Nội. Trên hệ thống đê Thái Bình: ngày 13,14/VIII, nhiều đoạn đê bối, đê địa phương bị tràn vỡ như đoạn Thanh Hà, Chi Nhị, Lai Nguyễn, Cao Đức, Ba Xã, Ba Tổng, Chí Linh, Phú Lương và Yên Dũng; ngày 15, vỡ đê Nam Đồng tỉnh Hải Dương, Tân Biển tỉnh Bắc Giang. Mưa, lũ lụt lớn trên sông Hồng và Thái Bình đã gây thiệt hại rất nghiêm trọng. Tổng diện tích úng lụt ở đồng bằng Bắc Bộ là 214.854ha lúa. 

2. Trận lũ đặc biệt lớn, úng lụt tháng VIII-1996 

Miền Bắc chịu ảnh hưởng chủ yếu của hoàn lưu ATNĐ đổ bộ vào Nam Định-Ninh Bình và nằm trong dải HTNĐ tồn tại từ 13-19/VIII; sáng 23, bão số 4 (NIKI) vào Thanh Hoá, sau di chuyển theo hướng tây sang Lào và suy yếu dần. Từ ngày 9¸20/VIII, trên lưu vực sông Hồng có mưa liên tiếp; mưa bình quân lưu vực là 432mm, trong đó sông Đà 380mm, sông Thao 317mm và sông Lô 349mm. Lượng mưa bình quân lưu vực sông Thái Bình từ ngày 11¸20/VIII là 184mm, trong đó sông Cầu 213mm, Thương 222mm và Lục Nam 107mm. Lượng mưa ở đồng bằng Bắc Bộ khoảng 300mm. Tâm mưa 300¸400mm ở vùng Lai Châu, Bắc Quang, Bắc Cạn và phía hạ lưu sông Đà, sông Bưởi. 

Lũ dặc biệt lớn xảy ra ở hạ lưu sông Hồng, Thái Bình và Hoàng Long. Đỉnh lũ thực đo tại Hà Nội là 12,43m (hoàn nguyên là 13.30m) lúc 19 giờ ngày 21, vượt BĐ 3 là 0.93m, kéo dài 6 ngày trên BĐ 3; tại Phả Lại là 6,52m (7h/22), vượt BĐ 3 là 1.02m, duy trì trên BĐ 3 trong 7 ngày; tại Bến Đế là 4,79m (7h/16) vượt BĐ 3 là 0.79m. Bão số 4 đổ bộ vào Thanh Hoá-Ninh Bình gây nước biển dâng thêm 1¸2m: tại cửa Ba Lạt ngày 23/VIII dâng cao thêm 1¸1,2m; tại Đông Xuyên, dâng thêm khoảng 2,0m. Nước dâng đã cản trở tiêu thoát lũ sông Hồng, Thái Bình ở sườn lũ xuống. 

Lũ đặc biệt lớn kéo dài nhiều ngày trên mức BĐ 3 đã uy hiếp nghiêm trọng toàn bộ hệ thống đê đồng bằng Bắc Bộ. Hầu hết các đê bối, đê địa phương thuộc Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Ninh Bình đều bị tràn hoặc vỡ. Đặc biệt, vỡ đê sông Gùa làm ngập 6 xã huyện Nam Thanh, Hải Dương; phá đê Đức Long sông Hoàng Long lúc 20h40’ ngày 15/VIII làm ngập 2 xã; tràn đập Lạc Khoái sông Hoàng Long từ 6h ngày 16/VIII. Lũ đặc biệt lớn, nước dâng và bão số 4 làm chết và mất tích 61 người, bị thương 161 người; nhà, trường học, bệnh xá, bệnh viện đổ là 7465 cái; hư hại, ngập trên 172.876 cái; lúa và hoa màu bị ngập, hư hại 104.504 ha; thiệt hại lớn về công trình thủy lợi, giao thông, năng lượng,... 

IV. Lũ lớn gậy vỡ đê làm ngập lụt diện rộng ở Bắc Bộ 

Đây là một loại thiên tai nguy hiểm nhất và gây hậu quả nặng nề nhất ở Bắc Bộ. 

1. Trận lụt do vỡ đê tháng VIII-1913 

Năm 1913, trên hệ thống sông Hồng, Thái bình, xảy ra lũ lớn cả miền núi, trung du và đồng bằng, gây vỡ đê ngập lụt trên diện rộng ở đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 9/VIII, khi lũ tại Hà Nội là 11,35m đã vỡ đê sông Hồng ở tỉnh Vĩnh Phúc trên 2 đoạn phía tả ngạn tại Nhật Chiên, Cẩm Viên và Hải Bối, Yên Hoa thuộc Phúc Yên; vỡ đê Phu Chu thuộc tỉnh Thái Bình. Ngày 14/VIII, khi lũ Hà Nội xuống mức 10,69m vẫn vỡ đê Lương Cổ, tả ngạn sông Đáy thuộc tỉnh Hà Nam. Ngày 17/VIII, vỡ đê Phương Độ, Sơn Tây phía hữu ngạn sông Hồng khi mực nước Hà Nội là 11,11m. Ngày 18/VIII, vỡ đê Nghĩa Lộ phía hữu ngạn thuộc tỉnh Hà Nam, khi mực nước Hà Nội 11,03m. Ngày 19/VIII, vỡ đê Quang Thừa, Lỗ Xá sông Đáy phía hữu ngạn thuộc tỉnh Hà Nam, khi mực nước Hà Nội 10,99m. Nước lũ làm ngập gần hết tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), một phần Hà Tây, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình và Bắc Ninh. Tổng diện tích lúa bị ngập là 307.670 ha, trong đó mất trắng 118.640 ha. Lụt đã gây tổn thất nhiều tài sản và nhà cửa, hầu hết các đường giao thông 1A, 2, 3, 10, 11A, 13A, 18; đường sắt Hà Nội - Hải Phòng bị ngập đoạn gần thị xã Hải Dương. 

2. Trận lụt do vỡ đê tháng VIII-1915 

Trận lụt do lũ lớn, vỡ đê tháng VIII-1915 gây tổn thất lớn. Đê bị vỡ liên tiếp 42 chỗ với tổng chiều dài 4180m (từ 11¸20/VII khi mực nước Hà Nội dao động từ 11,55 đến 11,64m). Đỉnh lũ hoàn nguyên tại Hà Nội là 12,92m. Những nơi vỡ chính như: Xâm Dương, Xâm Thị đê hữu sông Hồng thuộc tỉnh Hà Đông. Các chỗ vỡ khác như Lục Cảnh, Hoàng xá, Trung Hà tỉnh Phúc Yên; Phi Liệt, Thuỷ Mạo tỉnh Bắc Ninh. Đê tả sông Hồng, vỡ ở: Mễ Chân tỉnh Hưng Yên; Gia Quất, Gia Thượng, Phú Tòng, Yên Viên, Đông Thụ, Danh Nam tỉnh Bắc Ninh và một số chỗ khác trên sông Phó Đáy, Đuống và sông Đáy,... 

Lũ làm ngập lụt toàn bộ các tỉnh hữu ngạn sông Hồng như Hà Nội, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định và phía tả ngạn: toàn bộ tỉnh Bắc Ninh, một phần tỉnh Vĩnh Phúc và vùng Bắc Hưng Hải ở phía bắc đường quốc lộ 5. Lụt đã uy hiếp Hà Nội, Hà Đông và Nam Định. Đường xe điện Hà Nội- Hà Đông phải ngừng chạy. Nhà máy dệt Nam Định phải ngừng hoạt động. Các đường quốc lộ 1A, 2, 3, 5, 6, 11A và các đường liên tỉnh đều bị ngừng trệ. Diện tích đất canh tác bị ngập lên tới 325.000ha, trong đó mất trắng 221000ha lúa. 

3. Trận lụt do vỡ đê tháng VII-1926 

Ngày 29/VII, khi mực nước Hà Nội lên tới 11,93m thì vỡ đê tả ngạn sông Hồng vùng Gia Quất, ái Mộ, Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh; vỡ đê hữu ngạn sông Luộc tại Hạ Lao, Văn Quán tỉnh Thái Bình; vỡ đê tả ngạn sông Luộc tại Bô Dương tỉnh Hải Dương. Tổng diện tích đất canh tác bị ngập lụt do vỡ đê khoảng 100.000ha. 

4. Trận lụt lịch sử do vỡ đê tháng VIII năm 1945 

Lũ năm 1945 với mực nước thực đo tại Hà Nội 12.68m và mực nước hoàn nguyên là 14,05m (biểu P1.1). Ngày 16/VIII, khi mực nước Hà Nội lên tới mức 11,45m thì đê phía hữu ngạn sông Thao bị vỡ ở khu vực huyện Lâm Thao. Đến 13/IX, hầu hết các tuyến đê sông Đà, Thao, Lô, Hồng, Phó Đáy, Đáy, Đuống, Cầu, Thái Bình và đê sông Hoá đều bị vỡ. Tổng cộng có 52 chỗ vỡ, gây ngập lụt 11 tỉnh, không kể các tỉnh trung du và miền núi. Tổng diện tích đất canh tác bị ngập lụt là 312.000ha. Hàng triệu dân vùng đồng bằng bị ảnh hưởng trực tiếp của ngập lụt. Thiệt hại tương đương với 14,3 triệu tấn thóc. 

5. Trận lụt do vỡ đê tháng VIII năm 1971 

Từ 12-21/8, do tổ hợp tác động của dải HTNĐ, rãnh thấp nóng phía tây kết hợp với cao áp Thái Bình Dương, từ 12-21/VIII, đã xảy ra mưa to đến rất to ở Bắc Bộ. Mưa bình quân lưu vực sông Hồng là 255mm. Mưa rất lớn ở: Sìn Hồ 454mm, Sa pa 381mm, Lào Cai 386mm. Mưa bình quân lưu vực Thái Bình là 247mm. Mưa ở Tân Cương 678mm, Thác Riềng 402mm. Lượng mưa trung bình ở đồng bằng Bắc Bộ khoảng 200mm (hình P1.4). 

Hạ lưu sông Hồng, Thái Bình đã xảy ra trận lũ lịch sử (lớn nhất từ 1902 đến 1999). Đỉnh lũ tại Hà Nội là 14,13m (5h/22), vượt BĐ 3 là 2,63m, duy trì trên BĐ3 trong 8 ngày (đỉnh lũ hoàn nguyên là 14.6 mét); tại Phả Lại là 7,21m (9h/22), vượt BĐ3 là 1.71m, duy trì trên BĐ3 trong 12 ngày (biểu P1.5). Lũ trên hệ thống sông Đáy ở mức trên dưới BĐ3. Trong thời kỳ lũ cao, thuỷ triều giảm dần từ 3,5m xuống 2,4m. 

Lũ gây tràn, vỡ đê ở nhiều nơi: ngày 19/VIII, tràn vỡ các đê ở hạ lưu sông Lô, Đà và tả ngạn sông Hồng thuộc huyện Vĩnh Tường, đê bối Thanh Trì phía hữu ngạn sông Hồng; 4h ngày 20, phải mở đập Vân Cốc phân lũ vào sông Đáy, cùng lúc đó đã vỡ đê Lâm Thao, đến 6h/21 vùng vỡ Lâm Thao mới đầy nước; 5h ngày 21, vỡ đoạn dài 693m đê Vĩnh Lại; 9h ngày 21, vỡ 470m đê Cao Xá và Minh Nông; 1h45 ngày 22, vỡ đê Khê Thượng trên sông Đà; 5h ngày 22, phải phá đê khu chậm lũ Tam Nông ở hữu ngạn sông Thao; 20h45 ngày 22, vỡ đê Cống Thôn ở tả ngạn sông Đuống với chiều rộng 250m, sâu từ 18¸24m. Bắt đầu hàn khẩu đoạn vỡ đê Cống Thôn từ 31/VIII và 9h/22/IX mới hàn khẩu xong. Thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh: ngày 15, vỡ đê Ba Xã (Quế Võ); 6h ngày 19, vỡ đê Chợ Xa (Lục Nam); 6h15’ ngày 20, vỡ đê Ba Tổng (Quế Võ), vỡ đê Cảnh Hưng (Tiên Sơn); 14h45 ngày 22, vỡ đê sông Giang (Gia Lương), với chiều rộng 317m, sâu 7¸8m, hàn khẩu xong lúc 16h30 ngày11/IX. Thuộc địa phận tỉnh Hải Dương, Hưng Yên: 23h ngày 21, vỡ đê Lai Vu rộng 70m, sâu 1,8m, bắt đầu hàn khẩu ngày 28/VIII và hàn khẩu xong lúc 23h/29/VIII; 11h ngày 23, vỡ đê Thượng Vũ huyện Kinh Môn rộng 70m, sâu 2m, bắt đầu hàn khẩu ngày 28/VIII và hàn khẩu xong lúc 24h/30/VIII; ngày 23, chủ động phá vỡ đoạn đê Phao Tân (Chí Linh) trên chiều dài 180m, sâu 3,5m. Vỡ đê đã gây ngập lụt rộng lớn ở đồng bằng Bắc Bộ (hình P1.17). 

Theo thời giá năm 1971, tổng thiệt hại phần tài sản Nhà nước thuộc Trung ương quản lý là khoảng 44.225.000đ, trong đó: về nhà cửa, kho tàng bị ngập và trôi là 120.361 cái; về công nghiệp, khoảng 3.670.000đ; về nông nghiệp, khoảng 1.140.100đ; về công trình thuỷ lợi, khoảng 8.884.200đ, về giao thông bưu điện, khoảng 10.025.000đ và nhiều thiệt hại khác. Ngoài ra, thiệt hại của nhân dân và các địa phương do bị ảnh hưởng lũ lụt, dịch bệnh, ngừng trệ sản xuất không thể tính hết được. 

6. Trận lụt do lũ lớn gây vỡ đê tháng IX năm 1985 

Bão số 4 suy yếu thành ATNĐ, đi vào vịnh Bắc Bộ tối 10/IX, rồi vào Quảng Đông, Quảng Tây, Trung Quốc, ảnh hưởng đến Bắc Bộ. Tiếp sau là hoạt động của dải HTNĐ với lưỡi cao áp Thái Bình Dương có sóng đông ở rìa phía nam lưỡi cao lấn vào đã gây mưa từ 7¸13/IX/1985 trên toàn Bắc Bộ. Lượng mưa cả đợt rất lớn, hầu hết mưa từ 100¸900 mm. Nhiều tâm diện hẹp, nhưng có lượng mưa lớn: Bắc Quang (Hà Giang), mưa liên tục 4 ngày, đạt 821mm; tâm mưa Phố Bò (Hoà Bình) mưa to liên tục 4 ngày (9¸12/IX), mưa cả đợt là 710mm, vùng lân cận chỉ mưa 500mm trở xuống; tâm mưa Nho Quan, Gia Viễn (Ninh Bình), mưa to, mưa rất to trong 5 ngày (9¸13), tập trung trong ngày 11 đến sáng 12/IX: tại Gia Viễn, lượng mưa cả đợt là 955mm, trong đó ngày 12 mưa trên 600mm, tại Nho Quan, lượng mưa cả đợt đạt 841mm, riêng đêm 11 sáng 12 mưa 398mm, mưa giảm rất nhanh ra các vùng lân cận, chỉ mưa dưới 500mm. 

Lũ lớn đã xảy ra ở hạ lưu sông Hồng, Thái Bình; lũ cao đột ngột trên sông Tích, Đáy; lũ sông Hoàng Long, sông Bưởi đạt mức lũ lịch sử. Đỉnh lũ tại Hà Nội là 11,96 (4h/13/IX), vượt BĐ 3 là 0,46m; tại Phả Lại là 6,76m (1h/14), vượt BĐ3 là 1,26m; tại Bến Đế là 5,46m (1h/13) vượt BĐ3 là 1,46m và kéo dài 7 ngày; tai Phủ Lý là 4,72m (7h/13), vượt BĐ3 là 0,62m. Đây là đợt lũ lớn nhất trong tháng IX trên các sông Bắc Bộ kể từ đầu thế kỷ đến nay. Lũ lớn trùng với kỳ triều cường ở vịnh Bắc Bộ (đỉnh từ 3,1¸3,65m). 

Lũ lớn trên sông kết hợp với mưa rất to trong đồng xảy ra đột ngột và kéo dài nhiều ngày ở trên BĐ3 khi triều cường nên đã gây tràn, vỡ đê, làm ngập lụt, úng trên diện rộng ở đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa. Đê hệ thống sông Hồng và Thái Bình bị rò rỉ, sạt lở nhiều nơi. Đê bối bị vỡ và bị uy hiếp nghiêm trọng trên các tuyến thuộc tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Nội, Hải Dương, Hà Tây, Hưng Yên, Nam Định,...Đê sông Hoàng Long bị vỡ đoạn Chấn Hưng dài 500m. Tổng số có 18 đoạn bị vỡ trong huyện Gia Viễn, trong đó đê tả ngạn vỡ với khối lượng trên 80.000 m3, đê hữu ngạn vỡ trên 120.000 m3. Ngày 11, lũ tràn đập Gia Tường, Đức Long, Lạc Vân và Lạc Khoái. Ngày 12, lũ tràn đê Năm Căn. Ngày 13, toàn tuyến đê tả Hoàng Long từ Gia Tân đến Gia Viễn, Gia Thắng, Chấn Hưng đều bị tràn, vị trí Chấn Hưng bị vỡ. Huyện Gia Viễn có 20 xã thì cả 20 xã đều bị ngập, 80% số hộ bị ngập sâu đến mái nhà, chỉ còn khoảng 1000 hộ ở trên khu đất cao là bị ngập ít hơn. Quốc lộ 1 ngập sâu 1.5m, ô tô và tàu hỏa không đi lại được. Toàn huyện Gia Viễn gieo cấy 9947 ha, thì mất trắng 80%, ngoài ra còn thiệt hại về hoa màu, trâu bò, lợn gà, cây ăn trái và các tài sản khác. Lũ lịch sử sông Hoàng Long kết hợp với lũ sông Đáy, sông Đào, sông Nhuệ, Châu Giang cũng như mưa lớn trong đồng làm cho nhiều tuyến đê và các công trình thuỷ lợi tỉnh Hà Nam, Ninh Bình bị tràn, vỡ như đê quai xanh cống Biểu Thượng đang xây dở dang thì bị vỡ gây ngập nặng huyện ý Yên và một số khu khác. 

Mưa, lũ gây thiệt hại lớn nhất cho 3 tỉnh Hà Nam Ninh (cũ), Hà Sơn Bình (cũ) và Thanh Hoá: 34 người chết, trong đó Hà Nam Ninh 21 người, Thanh Hoá 12 người và Hà Sơn Bình 1 người; 32 xã bị ngập lụt; 225.000 ha lúa bị ngập, trong đó 155.000 ha lúa bị mất trắng. Các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Vĩnh Phúc và Hà Nội cũng bị thiệt hại lớn, với 93.100 ha lúa bị ngập, nhiều đê kè bị sạt lở,... 

Số liệu về lũ, lụt không thể diễn tả hết những hậu quả của nó gây ra ở đồng bằng Bắc Bộ. Qua các trận lũ lụt trên, càng thấy rõ: lũ, úng, lụt rất dễ xảy ra, mức độ, thời gian và diện ngập lụt tùy thuộc vào tính chất ác liệt của mưa lũ, lòng dẫn và hành lang thoát lũ, hiện trạng đê điều và khả năng cắt lũ, phân, chậm lũ cũng như các công trình tiêu nước ở đồng bằng Bắc Bộ. Vì vậy, cần rất chú trọng tăng cường công tác dự báo và biện pháp phòng tránh để giảm thiệt hại.